XUÂN ĐAN VÙNG ĐẤT VÀ CON NGƯỜI

Đăng lúc: Thứ ba - 01/09/2015 03:21 - Người đăng bài viết: admin
Giới thiệu chung
XUÂN ĐAN VÙNG ĐẤT VÀ CON NGƯỜI
A.   Đặc điểm tự nhiên:
1.     Địa lý hành chính.
Xã xuân Đan – huyện Nghi Xuân là vùng đất cổ gắn với di chỉ khảo cổ bãi phôi phối Xuân Viên có cách đây 5-6 ngàn năm, từ cuối thế kỷ 19 đến giữa thế kỷ 20 thuộc tổng Đan Hải của Huyện Nghi Xuân gọi là xã Đan Trường. Đến tháng 6/1954 xã Đan Trường được tách thành 2 xã Xuân Đan và Xuân Trường, xã Xuân Đan chính thức được thành lập và tồn tại cho đến ngày nay. Năm 2000 theo tờ trình của HĐND xã Xuân Đan và quyết định của Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh, Xuân Đan được chia thành 6 thôn : Thôn Song Giang, thôn Lĩnh Thành, thôn Bình Phúc, thôn Lương Ninh, thôn Thắng Lợi  và thôn Đan Kiều Năm 2013 thực hiện chủ trương sáp nhập thôn thì Xuân Đan còn 5 thôn: Thôn Song Giang, thôn Lĩnh Thành, thôn Bình Phúc, thôn Lương Ninh và thôn Kiều Thắng Lợi .
Xuân Đan là một xã đồng bằng ven biển, nằm về phía bắc của huyện Nghi Xuân – tỉnh Hà Tĩnh, phía bắc giáp Xã Xuân Trường, phía Đông giáp Biển Đông, phía Nam giáp xã Xuân Phổ,Phía Tây giáp Sông Lam, bên kia là xã Nghi Thái- huyện Nghi Lộc – tỉnh Nghệ An, địa thế xã Đan Trường xưa và xã Xuân Đan ngày nay được khái quát bằng những câu vè:
“... Quê Đan Trường xã cũ
Nôi văn hóa tổng Đan
 Tây ngọt nước Sông Lam
     Đông mặn tình biển quế..”
Theo địa lý tự nhiên từ xa xưa qua nhiều giai đoạn trầm tích, biến đổi của khí hậu trầm lắng nơi cửa sông ven biển hình thành những cồn kỳ theo hình lượn sóng để dân cư lập nghiệp nơi cao và sản xuất nơi thấp vùng ven sông được phù sa bồi đắp từ thượng nguồn về tạo thành những cánh đồng màu mỡ để nhân dân trồng lúa, nuôi trồng thủy sản và sản xuất vật liệu xây dựng. Tổng diện tích toàn xã là 714,24 ha có độ nghiêng từ đông sang tây với độ cao so với mực nước biển từ 0,5 đến 4m, trong đó diện tích đất là 547,56ha =83,66%; mặt nước: 116,68ha = 16,34% Với 187,5 ha đất sản xuất nông nghiệp = 31,38%,đất phi Nông nghiệp là 249 ha=41,67%, đất rừng 68,58=11,47%; đất nuôi trồng thủy sản 92,48ha=15,48% ,điều kiện tự nhiên thuận tiện tây sông đông bể lại gần cửa sông phù hợp với việc khai thác tài nguyên thủy hải sản, với 68,58 ha rừng phòng hộ và rừng đặc dụng có tác dụng phòng chống những nhân tố có hại như bão, hạn hán, điều tiết nguồn nước, điều hòa khí hậu, bảo vệ sản xuất, bảo vệ môi trường sinh thái, phục vụ đời sống dân sinh, chủ yếu là cây phi lao và cây bần.
2.Khí hậu và thời tiết.
Xuân Đan nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa chủ yếu ảnh hưởng khí hậu chuyển tiếp giữa miền bắc và miền  trung nhiệt độ trung bình hàng năm từ 23Oc – 24oc, độ ẩm bình quân 86%, nét đặc trưng của khí hậu Xuân Đan là độ chênh lớn giữa các mùa trong năm( gió mùa đông bắc và gió mùa tây nam) từ 14oc ,15oc đến 37oc, 38oc; chế độ mưa trùng với mùa bão lượng mưa bình quân hàng năm khoảng 1500mm và phân bố không đều tập trung vào tháng 8 -9-10 âm lịch trong năm khí hậu Xuân Đan được chia thành 2 mùa rõ rệt .
Mùa nóng(mùa hè): Từ tháng 4 đến tháng 9 dương lịch nhiệt độ từ 35oc- 38oc có khi lên đến 40oc, đây là thời gian hoạt động của gió mùa tây nam(gió lào) đem khí hậu nóng và khô làm cho nhiệt độ tăng cao gió lào thổi theo đợt từ 4 đến 6 ngày, có khi lên tới 10 ngày tập trung từ 11giờ đến 16 giờ trong ngày gây ra nóng bức gay gắt.
Mùa lạnh( mùa đông) thường xẩy ra từ tháng 11 âm lịch năm trước đến tháng 3 âm lịch năm sau, chủ yếu là gió mùa đông bắc và tây bắc gây ra mưa phùn và giá lạnh. Nhiệt độ trung bình của mùa đông từ 16oc – 180c,nhưng cũng có lúc xuống dưới 10oc gây rét đậm, rét hại.
Hàng năm tại địa bàn Xuân Đan phải chịu nhiều trận lũ lụt như lụt tiểu mãn tháng 4 âm lịch, lụt mùa mưa bão vào tháng 8 – 9 âm lịch và kèm theo từ 4-5 cơn bão và áp thấp tác động đến địa phương. Nhìn chung điều kiện khí hậu thời tiết đã đưa đến cho Xuân Đan nhiều thuận lợi và khó khăn trong sinh hoạt và sản xuất, vì vậy người dân Xuân Đan đã và đang tranh thủ mọi nguồn lực nhằm khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên hợp lý để phát triển kinh tế, nâng cao hơn nữa đời sống vật chất và tinh thần.
B. Cư dân và phong tục làng xã:
1. Cư dân làng xã.
Xã Xuân Đan huyện Nghi Xuân và đơn vị hành chính nằm trong vùng có nhiều di chỉ khảo cổ của bộ tộc Việt thường xa xưa, như vậy chúng ta khẳng định rằng con người đã định cư & tồn tại trên đất Xuân Đan cả ngàn năm nay và chủ yếu di cư từ Bắc vào lập nghiệp thuộc diện học hành đỗ đạt trở thành những  vị quan giỏi cố vấn quân sư cho triều đình  và nhà vua đã xây dựng lên làng, xã với những cái tên làng cổ được gọi đến mãi sau này. Như làng Cầu, làng Yến, làng Chùa, làng Hoa, làng Lê, làng Pheo, làng Hậu... đó là tiền thân của xã Xuân Đan ngày nay và cũng từ đó có những đặc điểm, phong thái khác biệt với cư dân các xã trong huyện như phong thái nho nhã, ham học hỏi, thanh liêm, ngay thẳng, thật thà. Sau khi Xuân Đan tách ra từ xã Đan Trường thì toàn xã có khoảng 3000 dân và phân bố trên 12 thôn. Đến nay Xuân Đan có 5 thôn với 832 hộ và 3256 nhân khẩu.
Thôn Song Giang có 124 hộ với 493 nhân khẩu tập trung chủ yếu là họ Uông, Lê , Nguyễn...
Thôn Lĩnh Thành có 187 hộ với 709 nhân khẩu tập trung chủ yếu là họ Nguyễn, Phan, Hoàng, Trần...
Thôn Bình Phúc có 188 hộ 712 nhân khẩu tập trung chủ yếu là họ Nguyễn, Phan Lê, Trần...
Thôn Lương Ninh có 137 hộ với 553 nhân khẩu tập trung chủ yếu là họ Nguyễn, Trần, Thạch, Võ...
Thôn Kiều Thắng Lợi Có 196 hộ với 759 nhân khẩu tập trung chủ yếu là họ Nguyễn, Trần, Hà, Hoàng, Mai...
Sự hình thành dân cư thôn xóm ở Xuân Đan là một quá trình lâu dài với tinh thần bền bỉ hăng say lao động và khát vọng vươn lên khai khẩn đất đai lập nên ruộng đồng thôn xóm.
2.     Phong tục tập quán.
Nét sinh hoạt văn hóa của người dân Xuân Đan đa dạng, đơn giản nhưng thắm đượm tính truyền thống và mang sắc thái riêng cuả địa phương có phần   khác với các xã trong huyện như hát tuồng, hát ví dặm, hát đối, sáng tác dân gian đặc biệt là các vở tuồng lịch sử, tổ chức các lễ hội mừng xuân với các trò chơi dân gian như đánh đu, đi cà kheo, đánh cờ người và đua thuyền ....những sắc thái riêng biệt đó đã trở thành di sản văn hóa, thể hiện tình yêu nghệ thuật và cuộc sống tinh thần phong phú của người dân Xuân Đan.
Tục ăn trầu, tục nhuộm răng mặc dù đến nay đã có phần mai một(tục nhuộm răng thì mất hẳn) mà chỉ còn lại với những người ở trên 60 tuổi . Tục ăn trầu đã trở thành thói quen và sở thích thậm chí là nghiện đối với những người cao tuổi , đây là nét đặc trưng của người dân Việt Nam trong đó có người dân Xuân Đan. Miếng trầu quả cau trở thành biểu trưng cho sự tôn kính, kính  trọng , lễ phép, hiếu khách trong cuộc sống Xã hội của người dân Xuân Đan.
II. Hệ thống chính trị.
Xuân Đan mảnh  đất ghi dấu ấn nhiều sự kiện trong suốt quá trình lịch sử, với tinh thần tự lực, tự cường đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau. Trải qua nhiều biến cố thăng trầm của lịch sử, nhân dân Xuân Đan đã phấn đấu vượt qua mọi khó khăn gian khổ, biến vùng đất hoang sơ thành những vùng đất trù phú. Từ ngày có Đảng nhân dân Xuân Đan đã góp sức người, sức cuả cho 2 cuộc kháng chiến làm nên đại thắng mùa xuân thống nhất đất nước. Ngày nay dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng bộ và chính quyền địa phương nhân dân Xuân Đan đã đang tích cực thực hiện cuộc đổi mới xây dựng Nông thôn mới đưa cuộc sống ấm no hạnh phúc đến với mọi người.
1.Đảng bộ:
 Đảng bộ toàn xã có 196 Đảng viên được phân chia sinh hoạt ở 7 chi bộ gồm 5 chi bộ thôn xóm và 2 chi bộ trường học, nhiều năm liên tục Đảng bộ được công nhận là Đảng bộ trong sạch vững mạnh
2.Hội Đồng Nhân Dân và Ủy Ban Nhân Dân:
Có nhiều chuyển biến tích cực đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới, năm 2004 xã Xuân Đan được tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang, được thủ tướng chính phủ tặng bằng khen, năm 1996 xã được công nhận xã văn hóa đầu tiên của huyện Nghi Xuân.
3.     Mặt trận tổ quốc và các tổ chức thành viên:
Là trung tâm của khối DĐK, ngày càng phát huy được vị trí, vai trò trong đời sống xã hội, đổi mới về nội dung và phương thức hoạt động theo hướng thiết thực và sâu sắc hơn. Đã vận động tập hợp được 14 tổ chức thành viên trong hệ thống chính trị của MT bao gồm tổ chức chính trị, chính trị XH, tổ chức xã hội, xã hội nghề nghiệp.
III. Kinh tế Xã hội.
1.     Thực trạng kinh tế xã hội
Trong những năm qua nền kinh tế của địa phương có phần tăng trưởng khá ổn định, xây dựng Nông thôn mới tiếp tục gặt hái được nhiều kết quả đáng phấn khởi, địa phương triển khai nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước, Xã hội hóa huy động mọi nguồn lực để xây dựng cơ sở hạ tầng, các chính sách an sinh xã hội được thực hiện kịp thời, đầy đủ, an ninh chính trị - trật tự an toàn xã hội được giữ vững tạo điều kiện thuận lợi cho việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị.
+Tổng giá trị sản xuất năm 2016 ước đạt: 78.072.570.000 đ
+ Thu nhập bình quân đầu người: 30.950.000 đ/người/năm
+Cơ cấu kinh tế: Nông, lâm, ngư: 51,2% ngành nghề, tiểu thủ công nghiệp: 523,5%, Dịch vụ - thương mại: 25,3%
+ Tỷ lệ hộ nghèo 4,9%
+ Tỷ lệ hộ gia đình văn hóa: 93%
a.Nông nghiệp: Tổng giá trị về lĩnh vực Nông Lâm Ngư:   18.301.760.000đ
- Trồng trọt và chăn nuôi chủ yếu là thu nhập từ trồng lúa và lạc: 6.602.990.000 đồng ,chăn nuôi chủ yếu là thu nhập từ gia cầm và nuôi bò sinh sản cho thu nhập: 4820.000
          Ngư nghiệp& nuôi trồng: Chủ yếu nuôi tôm sú và tôm thẻ chân trắng cho thu nhập: 4.788.950.000đ
          Lâm nghiệp: Khai thác rừng và sản phẩm từ rừng: 2.089.500.000đ
b. Ngành nghề tiểu thủ công nghiệp: Chủ yếu là ngành nghề truyền thống và xây dựng cho thu nhập: 8.109.550.000 đ
c.Dịch vụ thương mại: Tập trung kinh doanh tại chợ bơ và hộ gia đình cho thu nhập 8.808.150.000đ
d. Thu nhập khác: Chủ yếu là tiền lương, trợ cấp xã hội và thu nhập lao động ngoài địa phương gửi về: 42.853.660.000
2. Tiềm năng phát triển của địa phương:
a.Tiềm năng về con người: Sự hình thành vùng dân cư làng xã ở Xuân Đan là một quá trình lâu dài quá trình đó được bắt đầu từ khi người đầu tiên đến khai phá vùng đất này, khai hoang lập nghiệp trồng rừng, đắp đê, lấn sông, lấn biển với tinh thần bền bỉ hăng say lao động và khát vọng vươn lên, người dân Xuân Đan đã lập lên ruộng đồng cư dân làng xã. Tuy khác nhau về nguồn gốc, xứ sở, dòng họ nhưng tất cả chung lưng đấu cật xây dựng cuộc sống. Trong cuộc sống gian khổ vật lộn với thiên nhiên, nhưng người dân Xuân Đan từ thế hệ này sang thế hệ khác đã đoàn kết phát huy sức mạnh, nêu cao tinh thần khí phách của người dân xứ nghệ, đoàn kết, dũng cảm, kiên cường, bất khuất nhưng nho nhã, thanh liêm, ngay thẳng, thật thà và hiếu khách cùng xây dựng nên quê hương Xuân Đan giàu đẹp văn minh tiến bộ như ngày nay.
b. Tiềm năng lợi thế:
Xuân Đan nằm phía bắc của tỉnh Hà tĩnh ,phụ cận thành phố Vinh thị xã Cửa Lò của tỉnh Nghệ An, nằm trên trục đường quốc lộ ven biển khi cầu bến thủy 3 xây dựng xong cách cửa Hội 5km, cửa Lò 10km. có sông, có biển lại gần cửa sông có bãi bồi phù sa ven sông, có hệ thống giao thông sông, biển, (cảng) gần quốc lộ 1A gần đường hàng không, cách sân bay quốc tế Vinh 25km,gần bãi biển Xuân Thành, Cửa Lò nằm trong hệ thống di tích lịch sử - văn hóa Nghi Xuân bát cảnh đồng thời sở hữu nhiều nguồn tài nguyên biển quý giá so với địa phương khác trong huyện, trong vùng có nhiều tiềm năng, lợi thế để phát triển kinh tế. Nuôi trồng đánh bắt, chế biến hải sản, dịch vụ nghề biển, dịch vụ du lịch biển, du lịch sinh thái nghỉ ngơi dưỡng sức.
Những lợi thế này cho phép xã Xuân Đan có đầy đủ điều kiện và nhiều thuận lợi trong việc liên kết trao đổi, giao lưu phát triển hội nhập kinh tế - xã hội .
Phát huy truyền thống tốt đẹp của cha ông để lại và những thành tựu đạt được trong nhiều năm đổi mới, Xuân Đan quyết tâm khắc phục những hạn chế thiếu sót, Đảng bộ và nhân dân xã Xuân Đan quyết tâm phấn đấu xây dựng xã nhà ngày càng phồn vinh, giàu đẹp.
 
  Biên soạn – Chủ biên
Nguyễn Đăng Cảnh
 
 
 
Tác giả bài viết: Nguyễn Đăng Cảnh
Từ khóa:

giới thiệu

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 6 trong 2 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Danh mục

Liên kết Website

Thống kê

  • Đang truy cập: 5
  • Hôm nay: 172
  • Tháng hiện tại: 1956
  • Tổng lượt truy cập: 147726